Được hỗ trợ bởi google Dịch
 

Thiện Viện Trúc Lâm Yên Tử

Thiện Viện Trúc Lâm Yên Tử
Monday,
13/04/2026
Đăng bởi: TẠ QUANG Ý

Trúc Lâm Yên Tử - Thiện Viện Trúc Lâm Yên Tử - Quảng Ninh

Cẩm Nang

Hương Xưa Đức Thụ

Trúc Lâm Yên Tử - Thiện Viện Trúc Lâm Yên Tử - Quảng Ninh Còn gọi là Chùa Lân hay tên chữ là Long Động Tự là một ngôi chùa trên núi Yên Tử, thuộc địa phận thôn Nam Mẫu, phường Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, nằm trong Quần thể di tích danh thắng Yên Tử. Đây là thiền phái tiêu biểu cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam thời Trần, kết hợp hài hòa giữa tư tưởng Phật giáo và bản sắc văn hóa dân tộc.

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền thuần Việt, thể hiện rõ tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Thiền phái này mang đặc trưng kết hợp giữa việc tu tập tâm linh và trách nhiệm với đất nước, không tách rời đạo với đời, giúp người tu theo đạo Thiền vừa phát triển tâm linh vừa hoàn thành bổn phận công dân.

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng hậu, ông lên ngôi vua năm 1279. Ngoài thời gian điều hành triều chính, ông còn dành nhiều thời gian nghiên cứu kinh điển Phật giáo và thường xuyên mời các vị cao tăng vào cung để tham vấn. Sau khi thoái vị, vào năm 1299, ông chính thức xuất gia và đến tu hành tại núi Yên Tử (Quảng Ninh), lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Từ đây, ông đã sáng lập thiền phái Trúc Lâm, được người đương thời tôn kính gọi là Phật Hoàng hoặc Điều Ngự Giác Hoàng.

Trúc Lâm Yên Tử  “Trúc Lâm” vốn là hiệu của vua Trần Nhân Tông. Tên gọi này mang ý nghĩa gắn liền với không gian tu tập thanh tịnh, nơi có những rừng trúc xanh mát. Núi Yên Tử trở thành trung tâm của thiền phái Trúc Lâm vì đây là nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu hành, giảng đạo và xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo. Sự kết hợp giữa “Trúc Lâm” và “Yên Tử” đã tạo nên tên gọi đầy đủ của thiền phái, phản ánh cả nguồn gốc và trung tâm hoạt động của dòng thiền này.

Lịch Sử Năm 1293, vua Trần Nhân Tông đã cho tôn tạo, xây dựng chùa Lân thành một nơi khang trang lộng lẫy, chùa Lân trở thành Viện Kỳ Lân, là nơi giảng đạo, độ tăng. Ba vị sư tổ Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang thường đến đây thuyết pháp, giảng kinh. Chùa Lân xưa kia là một trong những ngôi chùa quan trọng nhất trong hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm. Trong kháng chiến chống Pháp, chùa gần như bị thiêu huỷ hoàn toàn, chỉ còn hệ thống các mộ tháp gồm 23 tháp, trong đó tháp lớn nhất là tháp mộ thiền sư Chân Nguyên (1647-1726).

Xây dựng Ngày 19 tháng 1 năm Nhâm Ngọ (2002), lễ đặt đá xây dựng chùa Lân – Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử đã được tổ chức. Công trình được xây dựng với sự khởi xướng của hoà thượng Thích Thanh Từ, Viện trưởng Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt và công đức của các tăng ni, phật tử trong, ngoài nước. Nhân dịp ngày sinh của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Ngọ (2002) Chùa Lân – Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử được chính thức khánh thành trên diện tích gần 5 mẫu.

Chùa Lân nằm trên một quả đồi có hình dáng một con lân nằm phủ phục. Hiện thời ngõ chùa Lân vẫn còn lưu dấu tích xưa, ngõ dài, rộng, hai bên có nhiều tháp mộ các nhà sư. Các công trình chính của chùa gồm Chính điện, Nhà thờ Tổ, Lầu trống, Lầu chuông, Nhà tăng, La Hán đường… Bài trí trong chùa đơn giản, dùng ngay chữ quốc ngữ trên các hoành phi, câu đối.

Thiện Viện Trúc Lâm Yên Tử Trong toà Chính điện có tượng đồng Thích ca mâu ni nặng gần 4 tấn. Sau Chính điện, trước nhà thờ Tam tổ Trúc Lâm có tượng Bồ Đề Đạt Ma làm bằng gỗ dáng hương có nguồn gốc từ Nam Mỹ, tượng cao 3,2m, bệ đỡ cao 0,65m, chiều rộng bệ đỡ 0,95m, nặng khoảng 3,2 tấn với những đường nét chạm khắc tinh tế. Trước sân Thiền viện đặt một quả cầu Như ý báo ân Phật bằng đá hoa cương đỏ, đường kính 1,590m, trọng lượng 6,5 tấn được lấy từ mỏ đá An Nhơn, tỉnh Quy Nhơn.

Quả cầu được đặt trên một bệ đá có tiết diện vuông, nặng 4 tấn, bên ngoài là bể nước hình bát giác với tám bồn hình cánh hoa bao quanh tượng trưng cho bát chính đạo. Quả cầu đã được trung tâm Sách kỉ lục Việt Nam xác định: Quả cầu Như ý lớn nhất Việt Nam. Trong La Hán đường có bộ tượng gỗ mười tám vị La Hán được chạm khắc tinh tế, đủ các dáng điệu tư thế và lai lịch của từng vị. Phía bên trái tháp thiền viện có một cây đa cổ thụ bảy trăm năm tuổi, cành lá sum xuê tươi tốt.

Tinh thần và đặc điểm của Thiền phái Trúc Lâm Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của Thiền phái Trúc Lâm gắn liền với cuộc đời của 5 vị vua: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Trong đó vua Trần Nhân Tông là Sơ tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Muốn thấy được tinh thần và đặc điểm của thiền phái, chúng ta cần biết qua cuộc đời tu hành ngộ đạo của các vị, nhất là hai vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông.

* Vua Trần Thái Tông: Ngài là vị vua đầu tiên của nhà Trần. Ngài lên ngôi năm 8 tuổi. Đến năm 20 tuổi, do có nhiều nỗi khổ, lòng ray rứt bất an, ngài bỏ ngai vàng trốn lên núi Yên Tử đi tu. Sau bao khó khăn nhọc nhằn, ngài lên tới đỉnh núi, vào tham vấn Đại sa-môn Quốc sư Trúc Lâm (Thiền sư Viên Chứng).

Gặp ngài, Quốc sư liền hỏi: - Bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ, lên chốn núi non hẻo lánh này nhằm cầu việc gì? Vua Trần Thái Tông đáp: - Trẫm lên đây chỉ để cầu làm Phật. Quốc sư nói: - Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong tâm. Nếu tâm lặng mà biết, đó là chân Phật. Nếu bệ hạ ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài. Ngay câu nói đó ngài thấy được đường vào và xin nhận Quốc sư làm thầy.

Ngày hôm sau, Trần Thủ Độ cùng các quan lên núi thỉnh ngài về kinh. Do lòng còn phân vân, ngài đến thỉnh ý thầy. Quốc sư Trúc Lâm cầm tay ngài nói rằng: “Phàm là đấng nhân quân, phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình. Lấy tâm thiên hạ làm tâm mình. Nay thiên hạ muốn ngài về, ngài không về sao được? Tuy nhiên việc nghiên cứu nội điển đừng phút nào quên”. Y theo lời dạy, ngài quay về kinh thành. Vừa thực hiện nhiệm vụ của một vị vua vừa tu hành.

Hơn 10 năm sau, ngài ngộ đạo trở thành một thiền sư. Với trí tuệ của một vị vua thiền sư, ngài lãnh đạo đất nước, đánh tan quân xâm lược Mông Cổ. Sau cuộc chiến, đất nước thái bình, ngài nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông và lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây ngài vừa cố vấn cho con, vừa tu hành. Khi đất nước hoàn toàn ổn định, vua Trần Thánh Tông đã đủ sức để đảm đương việc nước, ngài lui về lập am ở chốn rùng núi Vĩ Lâm, cố đô Hoa Lư, vừa an dân lập ấp, vừa tu hành.

Trúc Lâm Yên Tử - Thiện Viện Trúc Lâm Yên Tử - Quảng Ninh * Vua Trần Nhân Tông: Ngài là vị vua đời thứ ba của nhà Trần. Cũng như vua Trần Thái Tông, vì không thích làm vua, nên có lần ngài trốn lên núi Yên Tử đi tu, nhưng không được. Ngài phải trở về kinh thành để vừa làm nhiệm vụ của một vị vua, vừa tu hành. Nhờ Tuệ Trung Thượng Sĩ khai thị, ngài thông suốt đường vào, nên thờ Thượng Sĩ làm thầy. Dưới sự dẫn dắt của Thượng Sĩ, ngài thấu được cốt tủy của Thiền tông.

Ngài là một vị vua anh hùng, hai lần cầm quân đánh thắng quân Nguyên - Mông, giữ yên bờ cõi. Khi đất nước thái bình ổn định, ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và lui về chốn rừng núi, xuất gia tu hành theo hạnh đầu đà, nên có pháp hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà. Khi còn ở trong kinh thành, dù là vua, ngài sống đơn sơ đạm bạc, chỉ hết lòng lo cho dân cho nước. Ngài là tấm gương đạo đức cho quan lại noi theo để trở thành các vị quan thanh liêm.

Lấy việc phục vụ đất nước nhân dân làm chính. Vì người đời do sa đà theo ngũ dục, thường tạo thập ác nên cuộc đời thường chịu nhiều quả báo bất trắc, tai ương hoạn nạn, tuổi thọ ngắn ngủi. Nếu thường hành thập thiện thì tránh được các việc trên, phước đức tăng trưởng, được quả báo tốt đẹp. Vả lại, một xã hội trong đó có nhiều người hành thập thiện mang tinh thần Bồ-tát “tập vì người để bớt vì mình, tập quên mình để có thể sống vì người”, là một xã hội an hòa, vững mạnh, không cướp bóc tàn hại lẫn nhau. Người trong nước dễ dàng đoàn kết, cùng nhau tiến lên, vượt qua mọi khó khăn thử thách đến từ bên trong cũng như từ bên ngoài.

Nên sau khi rời kinh thành, ngài vừa tu hành vừa giáo hóa nhân dân. Ngài đi khắp nơi chỉ dạy cho người dân hành thập thiện và đi khắp nơi phá bỏ các dâm từ. Cuộc đời của hai vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông đã nói lên tinh thần cũng như chủ trương của Thiền phái Trúc Lâm: 1- Do Phật tại tâm, nên nếu khéo tu thì ở đâu tu cũng thành tựu. 2- Nếu được xuất gia để tu hành thì rất tốt. Nếu chưa, người tu vẫn có thể vừa đảm đương trách nhiệm thế gian, vừa tu hành đến chỗ ngộ đạo.

Mục này được đăng trong cẩm nang và được gắn thẻ với sản phẩm hương nhang sạch từ thảo mộc

Hương Xưa Đức Thụ

"HƯƠNG XƯA ĐỨC THỤ" CHUYÊN CUNG CẤP CÁC SẢN PHẨM HƯƠNG NHANG SẠCH, ĐỨC THỤ MUỐN HỌC HỎI VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯA CÁC THẢO MỘC THIÊN NHIÊN VÀO KẾT HỢP VỚI HƯƠNG NHANG, ĐỂ CÓ ĐƯỢC MÙI THƠM KHÁC BIỆT TRONG CÁC SẢN PHẨM HƯƠNG NHANG VIỆT NAM, CHÚNG TÔI CÒN TÌM HIỂU PHONG TỤC TÍN NGƯỠNG TÂM LINH TRUYỀN THỐNG.

Viết bình luận:
Facebook Hương Xưa Đức Thụ Zalo Hương Xưa Đức Thụ Messenger Hương Xưa Đức Thụ
popup

Số lượng:

Tổng tiền: